Hướng Dẫn Download & Cài Đặt Hate Pascal If You Can

Link download :   https://goo.gl/U2Wxnu Home:  http://hatepascalifucan.byethost3.com/

Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2017

CHƯƠNG TRÌNH CON VÀ ÐƠN VỊ CHƯƠNG TRÌNH Phần 1

Khi lập trình, chúng ta thường có những đoạn chương trình hay phép tính lặp lại nhiều lần. Nếu mỗi lần lặp lại, ta phải viết những đoạn lệnh như nhau thì chương trình của chúng ta trở nên dài dòng, rối rắm và mất thời gian vô ích.
Ðể giải quyết những trường hợp như vậy, Pascal cho phép chúng ta tạo ra các module, mỗi module mang một đoạn chương trình gọi là chương trình con (subroutine hay subprogram). Mỗi chương trình con sẽ mang một cái tên khác nhau. Một module chỉ cần viết một lần và sau đó chúng ta có thể truy xuất nó nhiều lần, bất kỳ nơi nào trong chương trình chính.  Khi cần thiết, chúng ta chỉ việc gọi tên chương trình con đó ra để thi hành lệnh. 
            Nhờ sử dụng chương trình con, chương trình có thể tiết kiệm được ô nhớ. Ðồng thời, ta có thể kiểm tra tính logic trong tiến trình lập trình cho máy tính điện tử, có thể nhanh chóng loại bỏ những sai sót khi cần hiệu chỉnh hay cải tiến chương trình. Ðây là khái niệm cơ bản trong ý tưởng lập chương trình có cấu trúc. Một quá trình tính cũng có thể có nhiều chương trình con lồng ghép vào nhau. 
            Trong Pascal, chương trình con được viết dưới dạng thủ tục (procedure) và hàm (function). Cấu trúc của 2 kiểu chương trình con này thì tương tự với nhau, mặc dầu cách truy xuất của chúng có khác nhau và cách trao đổi thông tin trong mỗi kiểu cũng có điểm khác nhau. Hàm (function) trả lại một giá trị kết quả vô hướng thông qua tên hàm và hàm được sử dụng trong biểu thức. 
            Ví dụ hàm chuẩn, như hàm sin(x) mà chúng ta đã biết trong chương trước có thể được xem như một chương trình con kiểu function với tên là sin và tham số là x. Trong khi đó, thủ tục (procedure) không trả lại kết quả thông qua tên của nó, do vậy, ta không thể viết các thủ tục trong biểu thức. Các lệnh Writeln, Readln trong chương trước được xem như các thủ tục chuẩn. 
            Một chương trình có chương trình con tự thiết lập có 3 khối (block) :
                        * Khối khai báo
                        * Khối chương trình con
                        * Khối chương trình chính 


* Một số khái niệm biến:
· Biến toàn cục (global variable): Còn được gọi là biến chung, là biến được khai báo ở đầu chương trình, nó được sử dụng bên trong chương trình chính và cả bên trong chương trình con. Biến toàn cục sẽ tồn tại trong suốt quá trình thực hiện chương trình. 
· Biến cục bộ (local variable): Còn được gọi là biến riêng, là biến được khai báo ở đầu chương trình con, và nó chỉ được sử dụng bên trong thân chương trình con  hoặc bên trong thân chương trình con khác nằm bên trong nó  (các chương trình con lồng nhau). Biến cục bộ chỉ tồn tại khi  chương trình con đang hoạt động, nghĩa là biến cục bộ sẽ được cấp phát bộ nhớ khi chương trình con được gọi để thi hành, và nó sẽ được giải phóng ngay sau khi chương trình con kết thúc. 
· Tham số thực (actual parameter) là một tham số mà nó có thể là một biến toàn cục, một biểu thức hoặc  một giá trị số (cũng có thể biến cục bộ khi sử dụng chương trình con lồng nhau) mà ta dùng chúng khi truyền giá trị cho các tham số hình thức tương ứng của chương trình con. 
· Tham số hình thức (formal parameter) là các biến được khai báo ngay sau Tên chương trình con, nó dùng để nhận giá trị của các tham số thực truyền đến. Tham số hình thức cũng là một biến cục bộ, ta có thể xem nó như là các đối số của hàm toán học. 
* Lời gọi chương trình con (thủ tục và hàm):
            Ðể chương rrình con được thi hành, ta phải có lời gọi đến chương trình con, lời gọi chương trình con thông qua tên chương trình con và danh sách các tham số tương ứng (nếu có).  Các qui tắc của lời gọi chương trình con: 
· Trong thân chương trình chính hoặc thân chương trình con, ta chỉ  có thể gọi tới các chương trình con trực thuộc nó. 
· Trong chương trình con, ta có thể gọi các chương trình con ngang cấp đã được thiết lập trước đó.
Thủ tục là một đoạn cấu trúc chương trình được chứa bên trong chương trình Pascal như là một chương trình con. Thủ tục được đặt tên và có thể chứa danh sách tham số hình thức (formal parameters). Các tham số này phải được đặt trong dấu ngoặc đơn ( ). Ta có thể truy xuất thủ tục bằng cách gọi tên của thủ tục. Chương trình sẽ tự động truy xuất thủ tục đúng tên đã gọi và thực hiện các lệnh chứa trong thủ tục đó. Sau khi thực hiện thủ tục xong, chương trình sẽ trở lại ngay lập tức sau vị trí câu lệnh gọi thủ tục đó. 
            Có 2 loại thủ tục:
+ thủ tục không tham số
+ và thủ tục có tham số.
a. Cấu trúc của thủ tục không tham số            
            PROCEDURE < Tên thủ tục > ;
                                                { Các khai báo hằng, biến, kiểu cục bộ... }
                        BEGIN
                                                            { ... các lệnh trong nội bộ thủ tục ... }
                        END ; 




Ví dụ 7.1: Tìm số lớn nhất trong 3 trị số nguyên
PROGRAM Largest ; (* Xác định số lớn nhất trong 3 trị số nguyên được nhập vào *)
VAR a, b, c : integer ;
yn : char ;
VAR max : integer ;
PROCEDURE maximum ;
BEGIN
IF c > max THEN max := c ;
IF a > b THEN max := a ELSE max := b ;
BEGIN (* Ðoạn chương trình chính *)
Writeln (' Số lớn nhất là' , max ) ;
END ;
yn := ‘Y‘ ;
Readln (a, b, c ) ;
WHILE ( upcase(yn) = ‘Y ‘) DO
BEGIN
Writeln (' Nhập 3 số nguyên : ') ;
Readln (yn) ;
maximum ; (* --- Lời gọi thủ tục maximum --- *)
Write (' Tiếp tục nhập 3 số mới không (y/n) ? ') ;
END ;
END.
Chú ý:
 
            Trong chương trình trên, thủ tục maximum được khai báo trước khi nó được truy xuất, các biến a, b, c được gọi nhập vào ở chương trình chính và biến max được định nghĩa bên trong thủ tục. Ðiều này cho ta thấy, không phải lúc nào cũng cần thiết khai báo biến ngay đầu chương trình chính.
 
                     b. Cấu trúc của thủ tục có tham số
 
            PROCEDURE < Tên thủ tục > (<danh sách tham số hình thức : kiểu biến>);
 
                        { Các khai báo hằng, biến, kiểu cục bộ ... }
 
                        BEGIN
 
                                    { ... các lệnh trong nội bộ thủ tục ... }
 
                        END ; 
 
            Khi viết một thủ tục, nếu có các tham số cần thiết, ta phải khai báo nó (kiểu, số lượng, tính chất, ...). Các tham số này gọi là tham số hình thức (formal parameters). 
 
            Một thủ tục có thể có 1 hoặc nhiều tham số hình thức. Khi các tham số hình thức có cùng một kiểu thì ta viết chúng cách nhau bởi dấu phẩy (,). Trường hợp các kiểu của chúng khác nhau hoặc giữa khai báo tham số truyền bằng tham biến và truyền bằng tham trị (sẽ học ở phần sau ) thì ta phải viết cách nhau bằng dấu chấm phẩy (;). 
 
 

PROGRAM Tinh_Giai_thua ;
VAR    
      n : integer ; gt : real ; {các biến chung}
      PROCEDURE  giaithua (m : integer );
            VAR     i : integer ;  {i là biến riêng}
                        BEGIN
                                    gt := 1 ;
                                    FOR i := 1 TO m DO gt := gt * i ;
                        END ;
BEGIN             (* Thân chương trình chính *)

            Write('Nhập số nguyên  n (0 <= n < 33) =  ') ; Readln (n) ;

            If n>=0 then

     Begin

                        giaithua (n) ;

                        Writeln ('Giai thừa của , n, là :'  , gt: 10 : 0) ;
                 End
            Else     Writeln(' Không tính giai thừa của một số âm! ') ;
            Readln;
END.           
Trong chương trình trên m là các tham số hình thức của thủ tục giaithua.
           Khi gọi thủ tục giaithua (n) thì tham số thực n được truyền tương ứng cho tham số hình thức m.
Ví dụ 7.3:  Giải phương trình ax2 + bx + c = 0, theo dạng chương trình con lồng nhau:

PROGRAM Giai_PTB2;

VAR   hsa, hsb, hsc:real;            {các biến toàn cục}

            PROCEDURE     Ptb2(a,b,c:real);  {a, b, c là các tham số hình thức của Ptb2}

                Var delta:real;  {biến cục bộ}

                   PROCEDURE Ptb1(a1,b1:real);   {a,b là các tham số hình thức của Ptb1}

                         Begin

                           if a1=0 then

                                            if b1=0 then

                                      writeln('Phương trình vô số nghiệm')

                                 else

                                    writeln('Phương trình vô nghiệm')

                             else

                                    writeln('Phương trình có nghiệm =',-b1/a1:8:2);

                      End;   {kết thúc thủ tục Ptb1} 

  Begin  {bắt đầu thủ tục Ptb2}

(3)               if a=0 then ptb1(b,c)   {b, c là các tham số thực cho Ptb1}

(4)               else

                      begin

                         delta:=sqr(b)-4*a*c;

                         if delta>0 then

                              begin

                                     writeln('Nghiệm x1= ',(-b+sqrt(delta))/(2*a):8:2);

                                     writeln('Nghiệm x2= ',(-b-sqrt(delta))/(2*a):8:2);

                              end

                         else

                              if delta=0 then

                                    writeln('Nghiệm kép x1=x2= ',-b/(2*a):8:2)

                             else

                                    writeln('delta <0   => Phương trình vô nghiệm');

                       end;

                End;  {kết thúc thủ tục Ptb2} 

Begin    {chương trình chính}

(1)      write('Nhập các hệ số a, b, c = ');readln(hsa, hsb, hsc);

(2)      Ptb2(hsa,hsb,hsc);     {hsa, hsb, hsc là các tham số thực cho Ptb2}

(5)      readln;

End.   {kết thúc chương trình} 
Ở ví dụ trên, thì thủ tục Ptb2 và thủ tục Ptb1 được gọi là thủ tục lồng nhau. 
            Ở dòng (4), ta thấy hsa, hsb, hsc lại được hiểu là các tham số thực, chúng truyền giá trị biến cho các tham số hình thức  a, b, c tương ứng trong thủ tục Ptb2. 
            Nếu ta lại xét đến thủ tục con của thủ tục Ptb2 là Ptb1 thì các tham số a, b, c này (chính xác là b và c) lại là tham số thực đối với Ptb1, với b và c được truyền tương ứng cho các tham số hình thức  a, b của thủ tục Ptb1. 
            Như vậy ta nhận thấy rằng, vấn đề xác định được đâu là biến toàn cục, đâu là biến cục bộ, đâu là tham số thực và đâu là tham số hình thức (tham số biến và tham số trị) là ứng bước nào mà chương trình đang thực hiện? Ðây là phần then chốt để nắm được cách vận hành và kết quả của chương trình xử lý. 
            Sơ đồ minh họa cách vận hành và quản lý biến của chương trình:
 
Hàm là một chương trình con cho ta 1 giá trị kiểu vô hướng. Hàm tương tự như thủ tục nhưng trả về một giá trị thông qua tên hàm và lời gọi hàm tham gia trong biểu thức.
            Cấu trúc một hàm tự đặt gồm:
            FUNCTION <Tên hàm> (<Tham số hình thức : kiểu biến>) : <Kiểu kết quả> ;
                        { các khai báo hằng, biến, kiểu cụcbbộ... }          
                        BEGIN
                                    { ... các khai báo trong nội bộ hàm ... }
                        END ; 
Trong đó:
-  Tên hàm là tên tự đặt cần tuân thủ theo nguyên tắc đặt tên trong Pascal.
-  Kiểu kết quả là một kiểu vô hướng, biểu diễn kết quả giá trị của hàm.
-  Một hàm có thể có 1 hay nhiều tham số hình thức, khi có nhiều tham số hình thức cùng một kiểu giá trị thì ta có thể viết chúng cách nhau bằng dấu phẩy (,). Trường hợp các tham số hình thức khác kiểu thì ta viết chúng cách nhau bằng dấu chấm phẩy (;).
-  Trong hàm có thể sử dụng các hằng, kiểu, biến đã được khai báo trong chương trình chính nhưng ta có thể khai báo thêm các hằng, kiểu, biến dùng riêng trong nội bộ hàm. Chú ý là phải có một biến trung gian có cùng kiểu kết quả của hàm để lưu kết quả của hàm trong quá trình tính toán để cuối cùng ta có 1 lệnh gán giá trị của biến trung gian cho tên hàm. 
Ví dụ 7.4:           FUNCTION  TINH (x, y : integer ; z : real ) : real ;

Ðây là một hàm số có tên là TINH với 3 tham số hình thức x, y, z. Kiểu của x và y là kiểu số nguyên integer còn kiểu của z là kiểu số thực real. Hàm TINH sẽ cho kết quả kiểu số thực real.

Ví dụ 7.5:         Bài toán tính giai thừa (factorials)

PROGRAM giaithua ;

VAR     x : integer ;

            FUNCTION factorial (n : integer) : integer ;

            VAR     heso, tichso : integer ;

                        BEGIN

                                    tichso :=  1 ;

                                    IF n <= 1  THEN factorial := 1

                                    ELSE BEGIN

                                                FOR    heso    := 2 TO n DO

                                                            tichso  := tichso * heso ;

                                                factorial :=  tichso;

                                                END ;

                        END ;

BEGIN

            Write (' Nhập vào một số nguyên dương x = '); Readln (x) ;

            Writeln (' Với x =  , x , thì giai thừa sẽ là :    x ! = ' , factorial(x))

            Readln;

END.    
Ghi chú :
Khi khai báo kiểu dữ kiệu cho các tham số hình thức trong thủ tục và hàm, ta cần phải chú ý điểm sau: 
            Nếu kiểu dữ liệu của các tham số hình thức là các kiểu dữ liệu có cấu trúc (kiểu array, string, kiểu record,... ) thì việc khai báo kiểu dữ liệu cho các tham số hình thức nên được  khai báo theo cách gián tiếp, tức là phải thông qua từ khóa TYPE. 
Ví dụ 7.6:         Procedure   Xuat1(hoten : string[25]);               

                        Procedure   Xuat2(mang: array[1..10] of integer);               

            Hai chương trình con Xuat1 và Xuat2 đều bị lỗi ở phần khai báo kiểu dữ liệu cho  hai tham số hình thức là hoten và mang. 

            Ðể khắc phục lỗi này, ta sẽ khai báo gián tiếp một kiểu dữ liệu str25 và M10 thông qua từ khóa TYPE như sau: 

TYPE

       Str25=string[25]; {Str25 là một kiểu chuỗi có độ dài 25}

       M10=Array[1..10] of integer; {M10 là một kiểu dữ kiệu mảng có 10 phần tử nguyên} 

Tiếp đến, dùng 2 kiểu dữ liệu mới định nghĩa Str25 và M10 để định kiểu cho các tham số hình thức hoten và mang như sau:

                  Procedure   Xuat1(hoten : Str25);               

                  Procedure   Xuat2(mang: M10);               

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét